Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Lộ trình triển khai hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam

Lộ trình triển khai hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam


Triển khai ứng dụng ITS (Intelligent Transportation Systems) là một lựa chọn để hiện đại hóa mạng lưới giao thông hiện tại và trong tương lai. Ở Việt Nam, ITS đã bắt đầu được triển khai ứng dụng trong những năm gần đây và đã đạt được những kết quả bước đầu hết sức tích cực. Bài viết trình bày hiện trạng và một số vấn đề cần giải quyết trong quá trình triển khai các ứng dụng ITS tại Việt Nam, qua đó đề xuất hướng hợp tác, nghiên cứu để thúc đẩy quá trình ứng dụng và phát triển ITS.

giao thong thong minh


Tính đến cuối năm 2012, Việt Nam có trên 256.684 Km đường, trong đó, đường quốc lộ là 17.228 Km, tỉnh lộ 23.520 Km, đường đô thị 8.492 Km, còn lại là các tuyến huyện lộ và xã lộ (tỷ lệ cao nhất). Chất lượng đường còn thấp, chủ yếu đường hẹp, đường hai làn xe. Giao thông trên các tuyến đường là giao thông hỗn hợp, với tỷ lệ xe máy cao (theo thống kê, đến hết năm 2009, cả nước có 24 triệu xe máy, gần 2 triệu ô tô). Tốc độ tăng trưởng phương tiện lớn. Ý thức người tham gia giao thông còn một số hạn chế nhất định. Nhiều vấn đề phát sinh cần phải giải quyết như tỷ lệ tai nạn giao thông còn cao, ùn tắc giao thông còn phổ biến tại các đô thị, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, hệ thống quản lý còn hạn chế, chất lượng và hiệu suất phục vụ còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, đòi hỏi phải tích cực phát triển, hoàn thiện hệ thống.

Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là một trong những ưu tiên hàng đầu mà Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đang thực hiện. Theo quy hoạch Hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam, việc nâng cấp, xây dựng và phát triển hệ thống đường quốc lộ được quan tâm và ưu tiên thực hiện. Trong quá trình đó, việc ứng dụng ITS cũng được chú trọng và khẩn trương tiến hành nhằm xây dựng hệ thống giao thông an toàn, bền vững.

Việt Nam đã có Lộ trình ứng dụng ITS, do Bộ GTVT ban hành, được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn đến năm 2015, giai đoạn từ 2015 đến 2020 và giai đoạn từ 2020 đến 2030. Mục tiêu của lộ trình này là: Tiêu chuẩn hoá ITS toàn quốc; Quy hoạch và xây dựng các trung tâm điều hành và kiểm soát giao thông tại 3 khu vực Bắc, Trung, Nam; và xây dựng hoàn thiện các ứng dụng, các hệ thống con ITS.

Một số dự án về ITS đã và đang được triển khai tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…, ứng dụng ITS trên hệ thống đường cao tốc cũng đang được khẩn trương thực hiện. Bên cạnh đó một số hệ thống giám sát giao thông phục vụ công tác quản lý đã được đưa vào ứng dụng.

Như vậy, có thể thấy việc ứng dụng ITS tại Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi liên quan đến hệ thống cơ sở hạ tầng, các chính sách, chiến lược và sự ưu tiên đầu tư phát triển. Tuy nhiên, quá trình này cũng còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục nỗ lực và tăng cường hợp tác, trao đổi với các nước trên thế giới để hoàn thiện và đẩy nhanh tiến trình ứng dụng ITS.

--------------------------------------
Một số giải pháp của DVMS cho lĩnh vực giao thông
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asiaMột số giải pháp khác...

Hiện trạng triển khai hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam

Hiện trạng triển khai hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam


Việc nghiên cứu ITS đã được thực hiện trong một thời gian và đạt được những thành tựu nhất định, góp phần quan trọng vào quá trình triển khai thực hiện ITS. Các Viện nghiên cứu, trường đại học, các công ty lớn đều có những nghiên cứu về vấn đề này. Năm 1999, Viện Khoa học và Công nghệ GTVT đã thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu áp dụng giao thông trí tuệ trong GTVT” với mục tiêu nghiên cứu hệ thống ITS trên thế giới và khả năng ứng dụng tại Việt Nam, đề xuất những ứng dụng ban đầu; đến năm 2009 Viện tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng ITS trong quản lý khai thác, điều hành giao thông và thu phí trên hệ thống đường ô tô cao tốc Việt Nam”.




Trong Chương trình KH và CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2011-2015, một số đề tài cấp nhà nước liên quan đến ITS đã được thực hiện như đề tài “Xây dựng cấu trúc ITS và các quy chuẩn công nghệ thông tin, truyền thông, điều khiển áp dụng trong ITS tại Việt Nam” (2012-2013); và đề tài “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo các thiết bị phương tiện và hệ thống tự động kiểm tra, giám sát, điều hành phục vụ cho an toàn giao thông đường bộ”. Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu khác như “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ Tự động hóa” do trường Đại học GTVT Hà Nội thực hiện năm 2007-2010; và chuyên đề “Các yêu cầu về chất lượng dịch vụ trong mạng sử dụng ITS” của Học viện Bưu chính-Viễn thông và Viện Khoa học Kỹ thuật bưu điện. Đây là những nghiên cứu nền tảng, bước đầu trong lĩnh vực ITS tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, những nghiên cứu của JICA (Nhật Bản) về lĩnh vực ITS có những đóng góp quan trọng trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng ITS tại Việt Nam. Các nghiên cứu của JICA tập trung vào tình hình thực tế và nhu cầu ứng dụng ITS của Việt Nam, qua 3 giai đoạn nghiên cứu: Điều tra nhu cầu, đề xuất lộ trình triển khai và quy hoạch tổng thể; Hỗ trợ triển khai ITS và nghiên cứu tích hợp ITS trong các tuyến quốc lộ khu vực phía Bắc Việt Nam. Trong đó bao gồm các hỗ trợ về xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong lĩnh vực ITS.

--------------------------------------
Một số giải pháp của DVMS cho lĩnh vực giao thông
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asiaMột số giải pháp khác...

Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giao thông thông minh tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hệ thống đường cao tốc đang được tập trung xây dựng và phát triển, yêu cầu các tuyến này phải trang bị hệ thống ITS, do đó Bộ GTVT xác định công tác xây dựng tiêu chuẩn ITS là “nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2013-2014” và giao nhiệm vụ xây dựng 8 tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong đó 7 tiêu chuẩn dành cho đường cao tốc. Trong tương lai, việc xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn khác sẽ được chú trọng thực hiện, không chỉ trong lĩnh vực đường cao tốc mà cho toàn bộ hệ thống đường bộ.

TransportationSystem

Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều dự án ứng dụng ITS trên hệ thống đường cao tốc. Tiêu biểu là các hệ thống ITS trên tuyến Cầu Giẽ - Ninh Bình, Tp. Hồ Chí Minh - Trung Lương, sắp tới sẽ triển khai dự án ứng dụng ITS trên quốc lộ 3 mới (Hà Nội -Thái Nguyên), hệ thống đường cao tốc vành đai Hà Nội. Đây là những dự án đầu tiên về ITS trên hệ thống đường cao tốc, có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng ITS sau này. Theo dự kiến, tất cả các tuyến cao tốc khi xây dựng đều phải trang bị hệ thống ITS.

Hệ thống quản lý giao thông thông minh tuyến cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đã được đưa vào sử dụng vào đầu tháng 10/2013, trung tâm quản lý, điều hành tuyến đặt tại Vực Vòng, Duy Tiên, Hà Nam. Hệ thống này bao gồm: hệ thống trung tâm điều khiển giao thông, hệ thống thu phí (bao gồm cả thu phí điện tử) hoạt động theo cơ chế thu phí kín với 39 làn xe, hệ thống giám sát điều khiển giao thông với 56 camera kỹ thuật số có độ phân giải cao, hệ thống kiểm soát tải trọng xe sử dụng thiết bị cân động,…Việc khai thác, sử dụng các hệ thống này đã được một số hiệu quả nhất định.

Việc ứng dụng ITS tại dự án đường cao tốc Tp Hồ Chí Minh - Trung Lương cũng đang được triển khai thực hiện, tập trung xây dựng hệ thống quản lý ITS cho toàn tuyến làm cơ sở xây dựng trung tâm ITS khu vực miền Nam Việt Nam, kết nối với hệ thống điều hành ITS quốc gia. Dự án này triển khai các hệ thống quản lý, điều hành, giám sát giao thông và thu phí điện tử nhằm tăng cường an toàn và hiệu quả khai thác. Tuyến đường TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây cũng đang được triển khai lắp đặt thiết bị do nhà thầu ITOCHU - TOSHIBA thực hiện.

Sắp tới, dự án tích hợp ITS trên tuyến Quốc lộ 3 mới và các tuyến Quốc lộ phía Bắc Việt Nam sẽ được tiến hành. Với tổng nguồn vốn đầu tư dự kiến khoảng 2.045 tỷ đồng, từ nguồn vốn vay ODA của JICA Nhật Bản. Dự án sẽ triển khai ITS trên các tuyến bao gồm tuyến vành đai 3 Hà Nội (Mai Dịch - Thanh Trì), Láng - Hòa Lạc, Cầu Giẽ - Ninh Bình, Hà Nội - Bắc Ninh, Nội Bài - Bắc Ninh, Nội Bài - Lào Cai, Hà Nội - Hải Phòng , Hà Nội - Thái Nguyên nhằm tăng cường quản lý, điều hành hệ thống, tăng cường an toàn và tiện ích cho người sử dụng.

Hệ thống các trung tâm điều hành giao thông đường cao tốc đang chuẩn bị xây dựng tại ba khu vực Bắc - Trung - Nam, dự kiến đặt tại Bắc Ninh, Đà Nẵng và Tp. Hồ Chí Minh. Đây là 3 trung tâm có chức năng điều phối, giám sát, điều hành giao thông trên các tuyến cao tốc trong phạm vi quản lý. Dự án được thực hiện với sự hỗ trợ của JICA (Nhật Bản).

--------------------------------------
Một số giải pháp của DVMS cho lĩnh vực giao thông

Một số dự án ứng dụng giao thông thông minh ở các thành phố tại Việt Nam

Hiện nay, tại các đô thị lớn của Việt Nam (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh), đã và đang triển khai xây dựng hệ thống giám sát, điều hành giao thông. Các dự án này sử dụng hệ thống camera giám sát, trung tâm điều khiển giao thông, hệ thống radio để thu thập thông tin, điều hành giao thông và cung cấp thông tin cho người sử dụng.



Tại Hà Nội, Trung tâm Điều khiển giao thông đã chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2000 với hệ thống thiết bị của hãng SAGEM điều khiển đèn tín hiệu giao thông do Chính phủ Pháp tài trợ. Có thể nói đây là ứng dụng đầu tiên của công nghệ ITS trong khu vực đô thị ở Việt Nam. Đến nay, trung tâm này đã được nâng cấp nhiều lần và vẫn đang hoạt động hiệu quả, góp phần giám sát, điều hành giao thông toàn thành phố.
Đề án thí điểm xây dựng mô hình quản lý Đại lộ Thăng Long với sự hình thành của Trung tâm Quản lý đường cao tốc Hà Nội. Trung tâm này sẽ quản lý an toàn giao thông, tiếp cận xử lý tai nạn giao thông và các biện pháp phòng ngừa; quản lý hệ thống thông tin; thực hiện công tác bảo hành, sửa chữa… Trung tâm sẽ ứng dụng các công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý như đếm, phân loại phương tiện giao thông tự động; hệ thống camera giám sát; hệ thống bảng thông báo điện tử; kiểm soát xe quá tải, quá khổ…

Dự án REMON được triển khai tại Hà Nội với mục tiêu theo dõi và xác định trực tuyến lưu lượng giao thông đồng thời tạo ra nguồn dữ liệu giao thông cho cả giai đoạn ngắn hạn và dài hạn. Dự án này sử dụng các phương tiện giao thông được giám sát (tốc độ và hướng chuyển động), định vị qua hệ thống GPS để thu thập các số liệu và phản ánh tình trạng dòng giao thông, phát hiện các vị trí ùn tắc qua đó cung cấp thông tin cho người sử dụng. Các thông tin thu thập phục vụ công tác quản lý, điều hành giao thông, đánh giá quy hoạch và các giải pháp tổ chức, điều khiển giao thông, xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển dài hạn để giải quyết các vấn đề giao thông.

Tại Đà Nẵng, Sở GTVT Đà Nẵng phối hợp với IBM xây dựng chương trình ITS cho toàn thành phố. Trung tâm Điều hành đèn tín hiệu giao thông và vận tải công cộng TP. Đà Nẵng tiến hành lắp đặt hệ thống camera giám sát giao thông, hỗ trợ giám sát, điều hành và giúp lực lượng công an giám sát các vi phạm và tiến tới thực hiện “xử phạt nguội”. Dự án xây dựng và nâng cấp hệ thống tín hiệu và điều khiển giao thông TP. Đà Nẵng, thực hiện từ năm 2004 đến năm 2012 từ nguồn vốn ODA của Tây Ban Nha, tiến hành điều khiển phối hợp các nút giao thông trên một số tuyến đường theo hình thức “làn sóng xanh”.

Tại Tp.Hồ Chí Minh, trung tâm điều khiển giao thông cũng đã được xây dựng. Hệ thống camera giám sát giao thông được lắp đặt. Thành phố đang thực hiện chương trình “Ứng dụng Khoa học công nghệ giảm ùn tắc giao thông giai đoạn 2013-2015 tầm nhìn đến 2020” nhằm “Nghiên cứu thử nghiệm và đưa vào ứng dụng các giải pháp công nghệ cho ITS nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển hệ thông cơ sở hạ tầng giao thông hiện hữu trên địa bàn thành phố, góp phần giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông”.

Trong lĩnh vực giao thông công cộng, việc ứng dụng ITS cũng bắt đầu được nghiên cứu và triển khai thực hiện thông qua hệ thống biển báo điện tử cung cấp thông tin về khoảng cách xe đến trạm dừng cho hành khách (được lắp đặt tại các trạm xe buýt). Sắp tới, tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, một số tuyến đường sắt đô thị sẽ được đưa vào khai thác và dự kiến sẽ sử dụng hệ thống thẻ thanh toán thông minh theo tiêu chuẩn công nghệ của Nhật Bản để phục vụ công tác mua vé. Ngoài ra, Nhật Bản cũng đang giúp hai thành phố này thực hiện dự án “Cải tạo giao thông công cộng” thí điểm sử dụng thẻ thông minh cho xe buýt.

Việc sử dụng hệ thống radio VOV giao thông trong việc thu thập, cung cấp thông tin, điều tiết giao thông đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực tại Thủ đô Hà Nội, Hầm đường bộ Hải Vân. Đây là một phương thức đơn giản nhưng hiệu quả, góp phần hạn chế ùn tắc giao thông trong đô thị và các khu vực trọng điểm.

Ngoài ra các ứng dụng trên điện thoại thông mình phục vụ cho lĩnh vực giao thông cũng đang được các công ty, cơ quan, chính quyền, người dân ủng hộ mạnh. các ứng dụng này làm giảm ùm tắc giao thông, tiết kiệm chi phí, nhân lực ...

--------------------------------------
Một số giải pháp của DVMS cho lĩnh vực giao thông
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asiaMột số giải pháp khác...

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Bạn có biết GPS hoạt động như thế nào không?

Bạn có biết GPS hoạt động như thế nào không?


Hệ thống định vị toàn cầu GPS là gì? Bạn có biết GPS hoạt động như thế nào không? Đâu là bí mật của sự chính xác gần như tuyệt đối của GPS?
GPS, viết tắt của "global positioning system" (hệ thống định vị toàn cầu), thực chất là một mạng lưới bao gồm 27 vệ tinh quay xung quanh trái đất. Trong số 27 vệ tinh này, 24 vệ tinh đang hoạt động, 3 vệ tinh còn lại đóng vai trò dự phòng trong trường hợp 1 trong số 24 vệ tinh chính bị hư hỏng. Dựa vào cách sắp đặt của các vệ tinh này, khi đứng dưới mặt đất, bạn có thể nhìn được ít nhất là 4 vệ tinh trên bầu trời tại bất kì thời điểm nào.
nguyen ly hoat dong gps
Phối hợp hoạt động với các vệ tinh quay xung quanh trái đất là 5 trạm theo dõi đặt trên mặt đất. Các trạm theo dõi này thu thập dữ liệu từ các vệ tinh và truyền dữ liệu về trạm chủ. Trạm chủ sau đó sẽ xử lý dữ liệu và đưa ra các thay đổi cần thiết để chuyển dữ liệu chuẩn về các vệ tinh GPS.
Hệ thống Định vị Toàn cầu (tiếng Anh: Global Positioning System - GPS) là hệ thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo, do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý. Trong cùng một thời điểm, tọa độ của một điểm trên mặt đất sẽ được xác định nếu xác định được khoảng cách từ điểm đó đến ít nhất ba vệ tinh.
Tuy được quản lý bởi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ cho phép mọi người trên thế giới sử dụng một số chức năng của GPS miễn phí, bất kể quốc tịch nào.
Các nước trong Liên minh châu Âu đang xây dựng Hệ thống định vị Galileo, có tính năng giống như GPS của Hoa Kỳ, dự tính sẽ bắt đầu hoạt động năm 2014
Hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ là hệ dẫn đường dựa trên một mạng lưới 24 quả vệ tinh được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đặt trên quỹ đạo không gian.
Các hệ thống dẫn đường truyền thống hoạt động dựa trên các trạm phát tín hiệu vô tuyến điện. Được biết đến nhiều nhất là các hệ thống sau: LORAN – (LOng RAnge Navigation) – hoạt động ở giải tần 90-100 kHz chủ yếu dùng cho hàng hải, hay TACAN – (TACtical Air Navigation) – dùng cho quân đội Mỹ và biến thể với độ chính xác thấp VOR/DME – VHF (Omnidirectional Range/Distance Measuring Equipment) – dùng cho hàng không dân dụng.
Gần như đồng thời với lúc Mỹ phát triển GPS, Liên Xô cũng phát triển một hệ thống tương tự với tên gọi GLONASS. Hiện nay Liên minh Châu Âu đang phát triển hệ dẫn đường vệ tinh của mình mang tên Galileo. Trung Quốc thì phát triển hệ thống định vị toàn cầu của mình mang tên Bắc Đẩu bao gồm 35 vệ tinh.
Ban đầu, GPS và GLONASS đều được phát triển cho mục đích quân sự, nên mặc dù chúng dùng được cho dân sự nhưng không hệ nào đưa ra sự đảm bảo tồn tại liên tục và độ chính xác. Vì thế chúng không thỏa mãn được những yêu cầu an toàn cho dẫn đường dân sự hàng khônghàng hải, đặc biệt là tại những vùng và tại những thời điểm có hoạt động quân sự của những quốc gia sở hữu các hệ thống đó. Chỉ có hệ thống dẫn đường vệ tinh châu Âu Galileo (đang được xây dựng) ngay từ đầu đã đặt mục tiêu đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt của dẫn đường và định vị dân sự.
GPS ban đầu chỉ dành cho các mục đích quân sự, nhưng từ năm 1980 chính phủ Mỹ cho phép sử dụng trong dân sự. GPS hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, mọi nơi trên Trái Đất, 24 giờ một ngày. Không mất phí thuê bao hoặc mất tiền trả cho việc thiết lập sử dụng GPS nhưng phải tốn tiền không rẻ để mua thiết bị thu tín hiệu và phần mềm nhúng hỗ trợ.

GPS hoạt động như nào?
Các vệ tinh GPS bay vòng quanh Trái Đất hai lần trong một ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tín hiệu có thông tin xuống Trái Đất. Các máy thu GPS nhận thông tin này và bằng phép tính lượng giác tính được chính xác vị trí của người dùng. Về bản chất máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận được chúng. Sai lệch về thời gian cho biết máy thu GPS ở cách vệ tinh bao xa. Rồi với nhiều quãng cách đo được tới nhiều vệ tinh máy thu có thể tính được vị trí của người dùng và hiển thị lên bản đồ điện tử của máy.
Máy thu phải nhận được tín hiệu của ít nhất ba vệ tinh để tính ra vị trí hai chiều (kinh độvĩ độ) và để theo dõi được chuyển động. Khi nhận được tín hiệu của ít nhất 4 vệ tinh thì máy thu có thể tính được vị trí ba chiều (kinh độ, vĩ độ và độ cao). Một khi vị trí người dùng đã tính được thì máy thu GPS có thể tính các thông tin khác, như tốc độ, hướng chuyển động, bám sát di chuyển, khoảng hành trình, quãng cách tới điểm đến, thời gian Mặt Trời mọc, lặn và nhiều thứ khác nữa.
gps maps
Độ chính xác của GPS như nào?
Các máy thu GPS ngày nay cực kì chính xác, nhờ vào thiết kế nhiều kênh hoạt động song song của chúng. Các máy thu 12 kênh song song (của Garmin) nhanh chóng khóa vào các quả vệ tinh khi mới bật lên và chúng duy trì kết nối bền vững, thậm chí trong tán lá rậm rạp hoặc thành phố với các toà nhà cao tầng. Trạng thái của khí quyển và các nguồn gây sai số khác có thể ảnh hưởng tới độ chính xác của máy thu GPS. Các máy thu GPS có độ chính xác trung bình trong vòng 15 mét.
Các máy thu mới hơn với khả năng WAAS (Wide Area Augmentation System) có thể tăng độ chính xác trung bình tới dưới 3 mét. Không cần thêm thiết bị hay mất phí để có được lợi điểm của WAAS. Người dùng cũng có thể có độ chính xác tốt hơn với GPS vi sai (Differential GPS, DGPS) sửa lỗi các tín hiệu GPS để có độ chính xác trong khoảng 3 đến 5 mét. Cục Phòng vệ Bờ biển Mỹ vận hành dịch vụ sửa lỗi này. Hệ thống bao gồm một mạng các đài thu tín hiệu GPS và phát tín hiệu đã sửa lỗi bằng các máy phát hiệu. Để thu được tín hiệu đã sửa lỗi, người dùng phải có máy thu tín hiệu vi sai bao gồm cả ăn-ten để dùng với máy thu GPS của họ.

GPS gồm những thành phần nào?
GPS hiện tại gồm 3 phần chính: phần không gian, kiểm soát và sử dụng. Không quân Hoa Kỳ phát triển, bảo trì và vận hành các phần không gian và kiểm soát. Các vệ tinh GPS truyền tín hiệu từ không gian, và các máy thu GPS sử dụng các tín hiệu này để tính toán vị trí trong không gian 3 chiều (kinh độ, vĩ độ và độ cao) và thời gian hiện tại.
Phần không gian
Phần không gian gồm 27 vệ tinh (24 vệ tinh hoạt động và 3 vệ tinh dự phòng) nằm trên các quỹ đạo xoay quanh trái đất. Chúng cách mặt đất 20.200 km, bán kính quỹ đạo 26.600 km. Chúng chuyển động ổn định vá quay hai vòng quỹ đạo trong khoảng thời gian gần 24 giờ với vận tốc 7 nghìn dặm một giờ.[4] Các vệ tinh trên quỹ đạo được bố trí sao cho các máy thu GPS trên mặt đất có thể nhìn thấy tối thiểu 4 vệ tinh vào bất kỳ thời điểm nào.
Các vệ tinh được cung cấp bằng năng lượng Mặt Trời. Chúng có các nguồn pin dự phòng để duy trì hoạt động khi chạy khuất vào vùng không có ánh sáng Mặt Trời. Các tên lửa nhỏ gắn ở mỗi quả vệ tinh giữ chúng bay đúng quỹ đạo đã định.
Phần kiểm soát
Mục đích trong phần này là kiểm soát vệ tinh đi đúng hướng theo quỹ đạo và thông tin thời gian chính xác. Có 5 trạm kiểm soát đặt rải rác trên trái đất. Bốn trạm kiểm soát hoạt động một cách tự động, và một trạm kiểm soát là trung tâm. Bốn trạm này nhận tín hiệu liên tục từ những vệ tinh và gửi các thông tin này đến trạm kiểm soát trung tâm. Tại trạm kiểm soát trung tâm, nó sẽ sửa lại dữ liệu cho đúng và kết hợp với hai an-ten khác để gửi lại thông tin cho các vệ tinh. Ngoài ra, còn một trạm kiểm soát trung tâm dự phòng và sáu trạm quan sát chuyên biệt.
Trạm trung tâm cũng có thể truy cập từ các ăng-ten mặt đất của U.S. Air Force Satellite Control Network (AFSCN) và các trạm quan sát NGA (National Geospatial-Intelligence Agency). Các đường bay của vệ tinh được ghi nhận bởi các trạm quan sát chuyên dụng của Không quân Hoa Kỳ đặt ở Hawaii, Kwajalein, Đảo Ascension, Diego Garcia, Colorado Springs, ColoradoCape Canaveral, cùng với các trạm quan sát NGA được vận hành ở Anh, Argentina, Ecuador, Bahrain, Úc và Washington DC.[5] Thông tin đường bay của vệ tinh đi được gởi đến Air Force Space Command's MCSSchriever Air Force Base 25 km đông đông nam của Colorado Springs, do 2nd Space Operations Squadron (2 SOPS) của U.S. Air Force vận hành. Sau đó 2 SOPS liên lạc thường xuyên với mỗi vệ tinh GPS thông qua việc cập nhật định vị sử dụng các ăng-ten mặt đất chuyên dụng hoặc dùng chung (AFSCN)(các ăng-ten GPS mặt đất chuyên dụng được đặt ở Kwajalein, đảo Ascension, Diego Garcia, và Cape Canaveral). Các thông tin cập nhật này đồng bộ hóa với các đồng hồ nguyên tử đặt trên vệ tinh trong vòng một vài phần tỉ giây cho mỗi vệ tinh, và hiệu chỉnh lịch thiên văn của mô hình quỹ đạo bên trong mỗi vệ tinh. Việc cập nhật được tạo ra bở bộ lọc Kalman sử dụng các tín hiệu/thông tin từ các trạm quan sát trên mặt đất, thông tin thời tiết không gian, và các dữ liệu khác.

Phần sử dụng
Phần sử dụng là thiết bị nhận tín hiệu vệ tinh GPS và người sử dụng thiết bị này.
Thiết bị smartphone (Android, Windows Phone, iOS) của bạn là một đầu thu GPS. Nói một cách khác, thiết bị của bạn thu dữ liệu từ các vệ tinh GPS ở trên bầu trời. Dữ liệu gì? Nói một cách đơn giản, mỗi vệ tinh cho bạn biết khoảng cách chính xác từ vị trí của bạn đến vệ tinh đó.
Dưới đây là một số thông tin đáng chú ý về các vệ tinh GPS (còn gọi là NAVSTAR, tên gọi chính thức của Bộ Quốc phòng Mỹ cho GPS)

Tín hiệu GPS
Các vệ tinh GPS phát hai tín hiệu vô tuyến công suất thấp dải L1 và L2. (dải L là phần sóng cực ngắn của phổ điện từ trải rộng từ 0,39 tới 1,55 GHz). GPS dân sự dùng tần số L1 1575.42 MHz trong dải UHF. Tín hiệu truyền trực thị, có nghĩa là chúng sẽ xuyên qua mây, thuỷ tinh và nhựa nhưng không qua phần lớn các đối tượng cứng như núi và nhà.
L1 chứa hai mã "giả ngẫu nhiên"(pseudo random), đó là mã Protected (P) và mã Coarse/Acquisition (C/A). Mỗi một vệ tinh có một mã truyền dẫn nhất định, cho phép máy thu GPS nhận dạng được tín hiệu. Mục đích của các mã tín hiệu này là để tính toán khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu GPS.
Tín hiệu GPS chứa ba mẩu thông tin khác nhau – mã giả ngẫu nhiên, dữ liệu thiên văn và dữ liệu lịch. Mã giả ngẫu nhiên đơn giản chỉ là mã định danh để xác định được quả vệ tinh nào là phát thông tin nào. Có thể nhìn số hiệu của các quả vệ tinh trên trang vệ tinh của máy thu Garmin để biết nó nhận được tín hiệu của quả nào.
Dữ liệu thiên văn cho máy thu GPS biết quả vệ tinh ở đâu trên quỹ đạo ở mỗi thời điểm trong ngày. Mỗi quả vệ tinh phát dữ liệu thiên văn chỉ ra thông tin quỹ đạo cho vệ tinh đó và mỗi vệ tinh khác trong hệ thống.
Dữ liệu lịch được phát đều đặn bởi mỗi quả vệ tinh, chứa thông tin quan trọng về trạng thái của vệ tinh (lành mạnh hay không), ngày giờ hiện tại. Phần này của tín hiệu là cốt lõi để phát hiện ra vị trí.

Những nguồn gây lỗi tín hiệu GPS
Những yếu tố có thể làm giảm tín hiệu GPS và vì thế ảnh hưởng tới chính xác bao gồm:
  • Giữ chậm của tầng đối lưutầng ion – Tín hiệu vệ tinh bị chậm đi khi xuyên qua tầng khí quyển.
  • Tín hiệu đi nhiều đường – Điều này xảy ra khi tín hiệu phản xạ từ nhà hay các đối tượng khác trước khi tới máy thu.
  • Lỗi đồng hồ máy thu – Đồng hồ có trong máy thu không chính xác như đồng hồ nguyên tử trên các vệ tinh GPS.
  • Lỗi quỹ đạo – Cũng được biết như lỗi thiên văn, do vệ tinh thông báo vị trí không chính xác.
  • Số lượng vệ tinh nhìn thấy – Càng nhiều quả vệ tinh được máy thu GPS nhìn thấy thì càng chính xác. Nhà cao tầng, địa hình, nhiễu loạn điện tử hoặc đôi khi thậm chí tán lá dày có thể chặn thu nhận tín hiệu, gây lỗi định vị hoặc không định vị được. Nói chung máy thu GPS không làm việc trong nhà, dưới nước hoặc dưới đất.
  • Che khuất về hình học – Điều này liên quan tới vị trí tương đối của các vệ tinh ở thời điểm bất kì. Phân bố vệ tinh lí tưởng là khi các quả vệ tinh ở vị trí tạo các góc rộng với nhau. Phân bố xấu xảy ra khi các quả vệ tinh ở trên một đường thẳng hoặc cụm thành nhóm.
  • Sự giảm có chủ tâm tín hiệu vệ tinh – Là sự làm giảm tín hiệu cố ý do sự áp đặt của Bộ Quốc phòng Mỹ, nhằm chống lại việc đối thủ quân sự dùng tín hiệu GPS chính xác cao. Chính phủ Mỹ đã ngừng việc này từ tháng 5 năm 2000, làm tăng đáng kể độ chính xác của máy thu GPS dân sự. (Tuy nhiên biện pháp này hoàn toàn có thể được sử dụng lại trong những điều kiện cụ thể để đảm bảo gậy ông không đập lưng ông. Chính điều này là tiềm ẩn hạn chế an toàn cho dẫn đường và định vị dân sự.)

GPS có ứng dụng gì cho cuộc sống?
Dân dụng
Quản lý và điều hành xe
1. Giám sát quản lý vận tải, theo dõi vị trí, tốc độ, hướng di chuyển,… 2. Giám sát mại vụ, giám sát vận tải hành khách,.. 3. Chống trộm cho ứng dụng thuê xe tự lái, theo dõi lộ trình của đoàn xe 4. Liên lạc, theo dõi định vị cho các ứng dụng giao hàng GPS có nhiều ứng dụng mạnh mẽ trong quản lý xe ô tô, đặc biệt là các loại xe như: Xe taxi, xe tải, xe công trình, xe bus, xe khách, xe tự lái. Với nhiều tính năng như:
  • Giám sát lộ trình đường đi của phương tiện theo thời gian thực: vận tốc, hướng di chuyển và trạng thái tắt/mở máy, quá tốc độ của xe….
  • Xác định vị trí xe chính xác ở từng góc đường (vị trí xe được thể hiện nháp nháy trên bản đồ), xác định vận tốc và thời gian xe dừng hay đang chạy, biết được lộ trình hiện tại xe đang đi (real time)
  • Lưu trữ lộ trình từng xe và hiển thị lại lộ trình của từng xe trên cùng một màn hình
  • Xem lại lộ trình xe theo thời gian và vận tốc tùy chọn
  • Quản lý theo dõi một hay nhiều xe tại mỗi thời điểm
  • Báo cáo cước phí và tổng số km của từng xe (ngày/tháng)
  • Cảnh báo khi xe vượt quá tốc độ, vượt ra khỏi vùng giới hạn
  • Chức năng chống trộm
Khảo sát trắc địa, môi trường
Các hạn chế trong ứng dụng dân dụng
Chính phủ Hoa Kỳ kiểm soát vệc xuất khẩu một số máy thu dân dụng. Tất cả máy thu GPS có khả năng hoạt động ở độ cao trên 18 kilômét (11 mi) và 515 mét một giây (1.690 ft/s)[7] được phân loại vào nhóm vũ khí theo đó cần phải có phép sử dụng của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ. Những hạn chế này nhắm mục đích ngăn ngừa việc sử dụng các máy thu trong tên lửa đạn đạo, trừ việc sử dụng trong tên lửa hành trình do độ cao và tốc độ của các loại này tương tự như các máy bay.
Các thiết bị ứng dụng GPS
Máy thu GPS, smartphone ...
GPS Trong quân sự
Các hệ thống định vị khác
Các hệ thống định vị vệ tinh khác được sử dụng ở một số nơi bao gồm:
  • Galileo – hệ thống toàn cầu do EU và các quốc gia đối tác khác phát triển, dự kiến đưa vào sử dụng năm 2014.
  • Beidou (Bắc Đẩu) – là hệ thống riêng của CHDNND Trung Hoa phát triển, phủ ở châu Á và tây Thái Bình Dương[8]
  • COMPASS – Hệ thống toàn cầu của CHDNND Trung Hoa, dự kiến đưa vào sử dụng năm 2020[9][10]
  • GLONASS – Hệ thống địa vị toàn cầu của Nga.
  • IRNSS – Hệ thống định vị khu vực của Ấn Độ, dự kiến đưa vào sử dụng năm 2012, phủ Ấn Độ và bắc Ấn Độ Dương[11]
  • QZSS – Hệ thống định vị khu vực của Nhật Bản, phủ châu Á và châu Đại Dương.

(Nguồn Wikipedia )

-------------
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asia

Giải pháp cho dịch vụ bác sĩ gia đình

Giải pháp cho dịch vụ bác sĩ gia đình


Bạn cần trang bị hệ thống quản lý thông minh cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà ( dịch vụ bác sĩ gia đình)... nhằm tối ưu hóa quy trình quản lý và giảm chi phí, tăng hiệu quả... DVMS chuyên tư vấn các giải pháp quản lý dịch vụ bác sĩ tại nhà, giải pháp bệnh án thông minh, giám sát sức khỏe từ xa...

bac si gia dinh


Bệnh án điện tử, Giải pháp quản lý và điều hành dịch vụ bác sĩ gia đình, giải pháp quản lý đội xe, giải pháp giám sát sức khỏe bệnh nhân từ xa, giải pháp nhắc nhở và tư vấn sức khỏe từ xa, giải pháp quản lý dược...

Xem thêm thông tin tại http://bacsigiadinh.asia
Bạn cần tư vấn thêm ? http://dvms.vn/lien-he.html

Vệ tinh địa tĩnh là gì?

Vệ tinh địa tĩnh là gì?


Đầu tiên bạn cần biết Quỹ đạo địa tĩnh là gì?

ve tinh dia tinh

Quỹ đạo địa tĩnhquỹ đạo tròn ngay phía trên xích đạo Trái Đất (vĩ độ 0º). Bất kỳ điểm nào trên mặt phẳng xích đạo đều quay tròn xung quanh Trái Đất theo cùng một hướng và với cùng một chu kỳ (vận tốc góc) giống như sự tự quay của Trái Đất. Nó là trường hợp đặc biệt của quỹ đạo địa đồng bộ, và là quỹ đạo được những người khai thác hoạt động của vệ tinh nhân tạo ưa thích (bao gồm các vệ tinh viễn thông và truyền hình). Các vị trí vệ tinh chỉ có thể khác nhau theo kinh độ.

Ý tưởng về vệ tinh địa đồng bộ cho mục đích viễn thông đã được Herman Potocnik đưa ra lần đầu tiên năm 1928. Các quỹ đạo địa đồng bộ và địa tĩnh cũng đã được Arthur C. Clarke, tác giả truyện khoa học viễn tưởng phổ biến lần đầu tiên năm 1945 như là các quỹ đạo có ích cho các vệ tinh viễn thông. Do đó, đôi khi các quỹ đạo này còn được nói đến như là các quỹ đạo Clarke. Tương tự, "vành đai Clarke" là một phần của khoảng không vũ trụ nằm phía trên mực nước biển trung bình khoảng 35.786 km trong mặt phẳng xích đạo, trong đó các quỹ đạo gần-địa tĩnh có thể đạt được.

Các quỹ đạo địa tĩnh là hữu ích do chúng làm cho vệ tinh dường như là tĩnh đối với điểm cố định nào đó trên Trái Đất. Kết quả là các ăng ten có thể hướng tới theo một phương cố định mà vẫn duy trì được kết nối với vệ tinh. Vệ tinh quay trên quỹ đạo theo hướng tự quay của Trái Đất ở độ cao khoảng 35.786 km (22.240 dặm) phía trên mặt đất. Độ cao này là đáng chú ý do nó tạo ra chu kỳ quỹ đạo bằng với chu kỳ tự quay của Trái Đất, còn được biết đến như là ngày thiên văn.

quy dao dia tinh
Sử dụng cho các vệ tinh nhân tạo
Các quỹ đạo địa tĩnh chỉ có thể đạt được rất gần với vòng 35.786 km phía trên xích đạo. Các vệ tinh quỹ đạo địa đồng bộ tròn khác (nếu có) sẽ cắt ngang quỹ đạo địa tĩnh và có thể xảy ra va chạm với các vệ tinh địa tĩnh này. Trên thực tế điều này có nghĩa là tất cả các vệ tinh địa tĩnh cần phải tồn tại trên vòng tròn này, nó đặt ra các vấn đề như phải ngừng hoạt động của các vệ tinh vào cuối chu kỳ hoạt động của nó (ví dụ như khi chúng hết lực đẩy).

Quỹ đạo chuyển tiếp địa tĩnh được sử dụng để chuyển vệ tinh từ quỹ đạo gần Trái Đất vào quỹ đạo địa tĩnh.
Hệ thống toàn thế giới các vệ tinh địa tĩnh đang hoạt động được sử dụng bởi các vệ tinh khí tượng để cung cấp các hình ảnh bằng ánh sáng thường và hồng ngoại về bề mặt và bầu khí quyển Trái Đất. Các hệ thống vệ tinh này bao gồm:
Phần lớn các vệ tinh viễn thông thương mại (và vệ tinh truyền hình) cũng hoạt động trên các quỹ đạo địa tĩnh.
Statite, một vệ tinh giả thuyết, sử dụng buồm mặt trời để thay đổi quỹ đạo của nó, về mặt lý thuyết có thể giữ cho nó trên "quỹ đạo địa tĩnh" với độ cao/độ nghiêng khác so với quỹ đạo địa tĩnh xích đạo "truyền thống".

Tính toán độ cao quỹ đạo địa tĩnh
Trên quỹ đạo địa tĩnh, vệ tinh không bị đẩy về phía Trái Đất mà cũng không bay ra xa khỏi nó. Vì thế, các lực tác động lên vệ tinh phải triệt tiêu lẫn nhau (theo Định luật 1 Newton về chuyển động), chủ yếu là lực ly tâmlực hướng tâm (ở đây coi các lực khác là không đáng kể). Để tính toán độ cao quỹ đạo địa tĩnh, người ta cần phải cân bằng hai lực này:


F_{ht} = F_{lt}

Theo định luật 2 Newton về chuyển động, ta có thể thay thế các lực F bằng khối lượng của vật thể nhân với gia tốc mà vật thể có được do các lực này:

m_{vt} \cdot a_{g} = m_{vt} \cdot a_{c}

hấy rằng khối lượng của vệ tinh, m_{vt}, xuất hiện trên cả hai vế—ta có thể chia cả hai vế cho m_{vt} (do nó ≠0) và có thể rút ra kết luận là quỹ đạo địa tĩnh là độc lập với khối lượng của vệ tinh. Vì vậy, tính toán độ cao được đơn giản thành tính toán điểm mà cường độ của gia tốc ly tâm có được từ chuyển động trên quỹ đạo và gia tốc hướng tâm tạo ra bởi trường hấp dẫn của Trái Đất phải bằng nhau.
Cường độ gia tốc ly tâm là:

|a_c| = \omega^2 \cdot r

...trong đó \omegavận tốc góc tính bằng radian trên giây, và r là bán kính quỹ đạo tính theo đơn vị mét từ tâm Trái Đất.
Cường độ của tương tác hấp dẫn là:

|a_g| = \frac{M_e \cdot G}{r^2}

...trong đó M_e là khối lượng của Trái Đất tính theo kilôgam, và Ghằng số hấp dẫn.
Cân bằng cả hai gia tốc ta thu được:

r^3 = \frac{M_e \cdot G}{\omega^2}
r = \sqrt[3]{\frac{M_e \cdot G}{\omega^2}}

Chúng ta có thể biểu diễn điều này trong dạng khác một chút bằng cách thay thế M_e \cdot G bằng \mu, hằng số hấp dẫn địa tâm:

r = \sqrt[3]{\frac{\mu}{\omega^2}}

Vận tốc góc \omega được tìm bằng cách chia góc mà vệ tinh đi qua trong một vòng quay (360^\circ = 2 \cdot \pi\ rad) trong chu kỳ quỹ đạo (thời gian nó cần để thực hiện đủ một vòng quay: nó bằng một ngày thiên văn, hay 86,164 giây). Điều này cho ta:

\omega = \frac{2 \cdot \pi}{86164} = 7.29 \cdot 10^{-5}\ \mathrm{rad} \cdot \mathrm{s}^{-1}

án kính quỹ đạo sẽ là 42.164 km. Trừ đi bán kính Trái Đất tại xích đạo, bằng 6.378 km, cho ta kết quả cuối cùng của độ cao là 35.786 km.
Vận tốc quỹ đạo (cho biết vệ tinh quay trong không gian nhanh đến mức nào) được tính bằng cách nhân vận tốc góc với bán kính quỹ đạo:

v = \omega \cdot r = 3,07 km/s = 11.052 km/h

(Nguồn: Wikipedia )

----------------------
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asia

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

app giúp người khiếm thị tìm đường và đọc thực đơn

app giúp người khiếm thị tìm đường và đọc thực đơn


Đọc tên điểm dừng xe buýt tiếp theo hay đọc thực đơn, một ứng dụng mới vừa được phát triển để giúp cuộc sống của những người khiếm thị dễ dàng hơn.

khiemthi

Ứng dụng mang tên Georgie dành cho các thiết bị chạy hệ điều hành Android giúp mọi người bị khiếm thị hoặc mắt không nhìn rõ có thể làm những công việc mà trước đây cực kỳ khó đối với họ.
Đây là sản phẩm của tổ chức phi chính phủ Screenreader có trụ sở ở Anh. Người sử dụng điều khiển các tính năng bằng cách di ngón tay tới các điểm khác nhau trên màn hình. Tên của mỗi điểm đều được đọc lên khi ngón tay của người dùng lướt qua, và sẽ kêu bíp nếu ngón tay chạm đúng chỗ.
Ứng dụng này giúp người sử dụng thực hiện cuộc gọi hoặc nhắn tin, cũng như các công việc phải dựa vào địa điểm, như khi nào đến điểm dừng xe buýt tiếp theo, người sử dụng đang đi theo hướng nào, hoặc cài đặt chuông nhắc nhở khi người dùng tới địa điểm cần đến. Hiện nay ứng dụng được cung cấp trên toàn thế giới với phiên bản tiếng Anh.
“Cứ mỗi tối đi làm về, tôi thường rất khó khăn để biết khi nào phải xuống xe buýt", anh Wilson Hinds, một người khiếm thị ở Anh, kể. Hinds cho biết ứng dụng mới thông báo cho anh về điểm dừng xe buýt sắp tới khi anh di chuyển bằng phương tiện công cộng này.
Tổ chức Y tế thế giới cho biết trên thế giới có khoảng 39 triệu người khiếm thị, và 285 triệu người gặp vấn đề về thị lực.
Tải app tại đây: https://play.google.com/store/apps/details?id=net.screenreader.GeorgieLauncher

------------------
DVMS chuyên:
* Tư vấn thiết kế các ứng dụng trên mobile và tablet: iphone, ipad , Android, Tablet, Windows phone, Blackberry...
* Nhận viết các ứng dụng trên mobile và tablet: iphone, ipad , Android, Tablet, Windows phone, Blackberry...
* Tích hợp phần mềm hiện có của doanh nghiệp lên smartphone và máy tính bảng.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Hệ thống Giao thông Thông minh (lntelligent Transport System - ITS)

Hệ thống Giao thông Thông minh (lntelligent Transport System - ITS)


Hệ thống Giao thông Thông minh (lntelligent Transport System - ITS) là việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ, bao gồm các thiết bị cảm biến, điều khiển, điện tử, tin học và viễn thông trong lĩnh vực giao thông để điều hành và quản lý hệ thống giao thông vận tải.
ITS là công nghệ mới phát triển trên thế giới, được sử dụng để giải quyết các vấn đề của giao thông đường bộ, bao gồm tai nạn và ùn tắc giao thông. ITS sử dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin và viễn thông để liên kết giữa con người, hệ thống đường giao thông và phương tiện giao thông lưu thông trên đường thành một mạng lưới thông tin và viễn thông phục vụ cho việc lưu thông tối ưu trên đường cao tốc.

its

ITS bao gồm: Con người, phương tiện tham gia giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông là các thành phần chính của hệ thống, được liên kết chặt chẽ với nhau nhằm bảo đảm cho hệ thống giao thông đạt các mục tiêu sau:

    Giúp hoàn thiện kết cấu hạ tầng đường bộ và xử lý khẩn cấp các sự cố giao thông.
    Hiện đại hoá các trạm thu phí tự động và trạm cân điện tử.
    Giảm tai nạn, ùn tắc giao thông và giảm ô nhiễm môi trường.
    Tiết kiệm thời gian, tiền bạc và nhiên liệu, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa.
    Quản lý các đường trục giao thông chính, điều tiết việc đi lại của phương tiện trên đường bằng biển báo điện tử.

    Tạo ra hệ thống thông tin cho người đi đường, phổ cập văn hoá giao thông và hỗ trợ quá trình khai thác, điều hành hệ thống giao thông công cộng, chống kẹt xe.
    Góp phần trong việc sản xuất các phương tiện thông minh, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả của thiết bị an toàn giao thông.

Các cảm biến sẽ được lắp đặt trên mặt đường để thu thập các thông tin về luồng giao thông, khí hậu, thời tiết,…các thông tin này được hệ thống máy tính phân tích và xử lý, sau đó cung cấp trở lại cho tài xế về tình hình giao thông trên đường (tai nạn, ùn tắc giao thông, thời tiết…) để tài xế chọn giải pháp giao thông tối ưu, giúp hạn chế tối đa tai nạn và ùn tắc giao thông, đảm bảo thời gian đi lại ngắn nhất và an toàn nhất cho các phương tiện đang lưu thông trên đường.

TrafficControlmanagement
​Các giải pháp chính
    Hệ thống quản lý giao thông (Traffic Management System – TMS)
    Hệ thống điều khiển đèn tín hiệu và dòng lưu thông (Traffic Flow Control System – TFC)
    Hệ thống kiểm soát an toàn giao thông (Traffic Enforcement System - TES)
    Hệ thống quản lý xe Bus (Bus Management System - BMS)
    Hệ thống vé liên thông (Automatic Fare Collection System - AFC)
    Hệ thống quản lý và thu phí bãi đỗ (Parking Control System – PCS)
    Hệ thống thu phí đường bộ (Toll Collection System - TCS)

Thông minh hóa hệ thống giao thông chính là giảm vai trò của con người trong điều hành giao thông. Khi con người không còn vai trò gì thì sẽ đạt đến mức tự động hóa. Đây chính là mục tiêu cao nhất của ITS. Để đạt được mục tiêu này, ITS phải có 3 giai đoạn: thu thập thông tin, xử lý thông tin và đưa thông tin được xử lý tới người tham gia giao thông.

Đây là hệ thống bao gồm các phương tiện truyền hình, nối mạng quản lý toàn quốc. Nhà quản lý chỉ cần ngồi một chỗ vẫn có thể bao quát được toàn bộ hệ thống đường toàn quốc. Đơn cử, một sự kiện đang xảy ra trên một điểm của đường cao tốc có thể lập tức được thông báo trong toàn hệ thống quản lý và sử dụng đường cao tốc, đồng thời kết nối với tổ chức thanh tra giao thông trên toàn quốc để kịp thời xử lý.

Thời gian tới đây, Việt Nam sẽ đầu tư mạnh mẽ vào đường bộ cao tốc. Tại Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1734/QĐ-TTg - đã xác lập mạng đường bộ cao tốc Việt Nam gồm 22 tuyến, với tổng chiều dài 5.873 km.

Trong đó, riêng tuyến cao tốc Bắc-Nam có tổng chiều dài khoảng 3.262km, gồm tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông dài khoảng 1.941km và tuyến cao tốc Bắc-Nam phía Tây dài khoảng 1.321 km. Hơn nữa, trong năm 2010 này, ngoài 40km của tuyến TP HCM- Trung Lương, dự kiến một tuyến cao tốc khác cũng sẽ đưa vào sử dụng là Cầu Giẽ - Ninh Bình. Do vậy, việc gấp rút triển khai hệ thống ITS là yêu cầu hết sức cấp bách với Việt Nam.

--------------------------------------
Một số giải pháp của DVMS cho lĩnh vực giao thông
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asiaMột số giải pháp khác...

Ứng dụng công nghệ di động vào giám sát phương tiện và đảm bảo ATGT

Ứng dụng công nghệ di động vào giám sát phương tiện và đảm bảo ATGT

Chỉ cần một vài thao tác đơn giản trên chiếc điện thoại di động của mình, bạn lập tức chọn được cung đường đi ngắn nhất, điểm đón xe buýt gần nhất, tuyến đường dự định đi qua có ùn tắc hay không… Đó là những ứng dụng phổ thông của hệ thống giao thông thông minh (ITS) mà Ủy ban ATGT Quốc gia đang nghiên cứu để đảm bảo ATGT, kéo giảm TNGT.

ap dung cong nghe se nang cao chat luong quan ly giao thong 2

Hạ tầng đã sẵn sàng
Thiết lập hệ thống giao thông thông minh dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý, điều hành hoạt động giao thông, bảo đảm trật tự ATGT và mang lại tiện ích tối đa cho người tham gia giao thông là vấn đề đã được Ủy ban ATGT Quốc gia đặt ra từ vài năm nay. Ứng dụng CNTT trong giao thông đã trở thành xu thế tất yếu và thực tế một số lĩnh vực đã được áp dụng như: Bán vé tàu qua mạng internet, bán vé xe buýt tự động, thu phí xe  tự động trên đường cao tốc, biển báo giao thông điện tử, quản lý xe ôtô thông qua thiết bị giám sát hành trình, camera giám sát giao thông…

Theo ông Khuất Việt Hùng, Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban ATGT Quốc gia, điều cần thiết hướng tới là phải xây dựng được một hệ thống quản lý giao thông thông minh, đồng bộ, theo một tiêu chuẩn chung để phục vụ công tác quản lý Nhà nước và khai thác hiệu quả hạ tầng giao thông. Điều này cũng giải quyết tốt hơn nhu cầu tiện ích và an toàn cho người dân, cũng như lợi nhuận cho DN cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực này. “Chỉ có ứng dụng CNTT mới nâng cao năng lực quản lý, hiệu suất khai thác hạ tầng, vận tải, cũng như tạo ra tính minh bạch, bình đẳng trong quản lý và xử lý vi phạm giao thông”, ông Hùng nói và cho biết, hạ tầng giao thông, thiết bị thu nhận thông tin của phương tiện đã đủ điều kiện để bắt tay xây dựng một hệ thống giao thông thông minh dựa trên nền CNTT.
“Dữ liệu thông tin là yếu tố quan trọng nhất để xây dựng hệ thống giao thông thông minh. Thông tin có thể được thu nhận qua vị trí của thuê bao điện thoại di động, thiết bị giám sát hành trình ôtô, từ camera giám sát giao thông… Ví dụ, như trên một đoạn đường có mật độ thuê bao di động tập trung nếu mà xảy ra ùn tắc giao thông..., hệ thống này sẽ giải quyết được vấn đề đó”, ông Hùng cho hay.

Ưu thế từ điện thoại di động
Trao đổi với Báo Giao thông, ông Đinh Đức Hùng, Giám đốc Trung tâm ứng dụng sản phẩm, Tổng công ty Viễn thông Viettel cho biết, hạ tầng và khả năng công nghệ trong nước hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu thiết lập hệ thống quản lý giao thông thông minh. Khi áp dụng hệ thống này, vào chắc chắn sẽ giúp thay đổi hoàn toàn diện mạo giao thông, nhất là ở đô thị.
“Chúng ta hoàn toàn có thể xã hội hóa đầu tư xây dựng hệ thống quản lý giao thông thông minh, với phương châm Nhà nước, DN và nhân dân cùng làm. Viettel đủ khả năng và có nhiều lợi thế khi tham gia các chương trình ứng dụng CNTT vào xây dựng hệ thống giao thông thông minh”, ông Hùng nói và cho biết, vấn đề quan trọng nhất trong xây dựng hệ thống này là dữ liệu thông tin.
Ngoài dữ liệu mà ngành GTVT đã có, Viettel còn có ưu thế bởi mạng viễn thông phủ sóng toàn quốc với hơn 50 triệu thuê bao điện thoại di động, hơn 50 nghìn xe máy sử dụng dịch vụ quản lý từ xa. Cách đây hơn ba năm, Viettel đã hoàn thành đề tài nghiên cứu thuật toán xử lý dữ liệu thông tin giao thông để sẵn sàng tham gia vào việc xây dựng hệ thống giao thông thông minh. Nếu được triển khai, trong 1-2 tháng tới, Viettel sẽ thí điểm ứng dụng CNTT vào quản lý giao thông tại các đô thị lớn.
Liên quan đến vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý giao thông, theo TS. Trương Gia Bình (Chủ tịch HĐQT FPT), việc xây dựng hệ thống giao thông thông minh là giải pháp tổng thể, có tính thực tiễn cao. Chủ trương đầu tư theo hướng xã hội hóa mà Bộ GTVT đưa ra rất phù hợp, trong đó, DN trong nước có thể tự viết phần mềm quản lý.

( Nguồn atgt.vn )

--------------------------------------
Một số giải pháp của DVMS cho lĩnh vực giao thông
Ứng dụng gọi xe trên smartphone: http://taxi.giaiphapgiaothong.com
Giao nhận hàng hóa: http://giaonhan.giaiphapgiaothong.com
Mua vé tàu, xe, máy bay: http://vexe.giaiphapgiaothong.com
Quản lý vận tảihttp://vantai.giaiphapgiaothong.com
Quản lý nhân sự: http://tracking.taoungdung.com
Tìm giúp việc: http://giupviec.taoungdung.com
Chăm sóc sức khỏe: http://healthcare.tabletappdevelop.com
Du lịch: http://homestaytravel.asiaMột số giải pháp khác...